thuê xe mercedes học tiếng trung trung tâm tiếng trung công ty bao bì
Trang chính
TTGDTX Hưng Yên » Thông Tin Giáo Dục 14.12.2017 03:19
SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TẠI TTGDTX TỈNH HƯNG YÊN (Kỳ 2)
16.10.2017 15:30

Xem hình
Thực hiện chỉ thị số 03 – CT/TW ngày 14/5/2011 và chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, trong năm 2017, Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên tiếp tục tuyên truyền và vận động cán bộ viên chức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng hình thức tổ chức thực hiện các chuyên đề. Công tác hoạt động chuyên đề này đã mang lại hiệu quả rõ nét về nhận thức tư tưởng và hành động đối với từng cá nhân và đơn vị trong cơ quan, giúp cho mọi người hiểu được tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.



Kết quả việc thực hiện công tác chuyên đề:

I-Tổng số chuyên đề đã thực hiện trong tháng 2,3,4/2017: gồm 9 chuyên đề - cụ thể:

TT

Tên chuyên đề

Thời gian

thực hiện

Đơn vị

thực hiện

1

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hoá ứng xử

14/2/2017

QLĐT

2

Làm theo lời Bác dạy về Chống thói ba hoa để nâng cao chất lượng công việc trong đơn vị.

21/2/2017

BDNCTĐ

3

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần đoàn kết trong công việc.

24/2/2017

NN-TH

4

Vận dụng TT HCM về chống chủ nghĩa cá nhân để nâng cao chất lượng công việc

17/3/2017

QLĐT

5

Vai trò của tổ chức Công đoàn trong Tư tưởng Hồ Chí Minh - vận dụng.

29/3/2017

NN-TH

6

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nhân văn trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật.

29/3/2017

BDNC

7

Tư tưởng HCM về rèn luyện nhân cách người cán bộ viên chức

18/4/20174

NN-TH

8

Tư tưởng HCM trong công tác thi đua khen thưởng

21/4/2017

QLĐT

9

Làm theo tư tưởng HCM về đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ.

25/4/2017

BDNC

II- Nội dung cơ bản của các chuyên đề:

Nội dung các chuyên đề đã nêu rất rõ về tư tưởng của Bác trong quá trình nhận định, đánh giá tình hình cụ thể từng vấn đề, từng sự việc, về cách xử lý, khắc phục đối với những căn bệnh thường xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, viên chức tại các cơ quan, đơn vị. Đồng thời cũng nêu rõ những tư tưởng, đức tính tốt đẹp của người mà chúng ta cần phải học tập.

Mỗi chuyên đề đều có phần liên hệ thực tế với nhiệm vụ cụ thể trong cơ quan, những việc đã làm được và chưa làm được, để từ đó mỗi cá nhân  chúng ta nhìn nhận lại mình, giúp khắc phục, sửa chữa những hạn chế khuyết điểm và rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho bản thân.

Phần cuối chuyên đề là các câu hỏi thảo luận xoay quanh nội dung chuyên đề, về liên hệ thực tế với kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng cá nhân, các tình huống và cách xử lý …Với những ý kiến thảo luận đóng góp hết sức sôi nổi giúp cho mỗi cá nhân trong đơn vị nhận thức một cách sâu sắc công việc mình đang đảm nhiệm, để ngày càng cố gắng hoàn thiện bản thân mình hơn, giúp cho cơ quan ngày càng phát triển.

1- CHUYÊN ĐỀ “TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ ỨNG XỬ”

1.1- Vai trò của văn hoá ứng xử trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Văn hóa ứng xử là những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với các đối tượng khác nhau thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng bản sắc của văn hóa một dân tộc, một quốc gia được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội thừa nhận và làm theo.

Văn hoá ứng xử Hồ Chí Minh là sức mạnh bền bỉ để con người vượt qua mọi khó khăn, giữ vững được niềm tin, làm chủ chính mình và hoàn cảnh nhằm để đi tới mục đích của cuộc đời và sự nghiệp.

1.2- Học tập tư tưởng HCM về văn hoá ứng xử

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là sự kết hợp giáo dục bằng ngôn ngữ với thực hành bằng công việc thực tế hàng ngày và bằng sự nêu gương... Người luôn thực hiện theo bốn phương châm:

Một là, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp.

Hai là, chân tình, nồng hậu, tự nhiên.

Ba là, linh hoạt, chủ động, biến hóa.

Bốn là, vui vẻ, hòa nhã, xóa nhòa mọi khoảng cách.

Nét chung tạo nên tính nhất quán trong văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh chính là sự chân thành, giản dị, cách ứng xử tự nhiên, ân cần, chu đáo với mọi đối tượng mà Người giao tiếp

Chỉ cần một lời chào chân tình, một nụ cười niềm nở, một cử chỉ vượt ngoài quy cách thông thường,những lời nói bình dị, dễ hiểu và sự dí dỏm tự nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xóa bỏ mọi cách biệt về chức vụ, địa vị, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa lãnh tụ với nhân dân; đem đến cho mọi người ý thức về sự bình đẳng hoàn toàn giữa những con người tự do và dân chủ trên cơ sở tôn trọng giá trị nhân phẩm con người.

1.3 – Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

- Trong cơ quan ta, việc thực hiện một số tiêu chí trong văn hoá ứng xử mới chỉ là hình thức

- Văn hóa ứng xử là một phạm trù lớn, nó là tổng hòa các mối quan hệ. Mục đích của chúng ta là phải gắn bó, đoàn kết, sẻ chia, phải có ứng xử hoà nhã, chuẩn mực với nhau. Lời cảm ơn, xin lỗi là ứng xử đẹp trong cuộc sống và cần dùng đúng lúc đúng chỗ và phải xuất phát từ tấm lòng yêu thương đồng loại.

- Trong cơ quan khẳng định có yêu thương, chia sẻ, nhưng không phải lúc nào cũng có, sự chia sẻ phải xuất phát từ tấm lòng mới vững bền, hãy đồng cảm với hoạn nạn của người khác, đến lúc mình hoạn nạn mới có người khác giúp đỡ.

- Không nên tụ tập, gây mất đoàn kết, nếu có ý kiến phải phát biểu thẳng thắn. Mỗi người nên ứng xử có văn hóa, phải nhìn lại mình, thay đổi cách nghĩ cách làm khắc phục những tồn tại khuyết điểm để cho cơ quan ta ngày càng phát triển.

                  

2- CHUYÊN ĐỀ “LÀM THEO LỜI BÁC DẠY VỀ CHỐNG THÓI BA HOA ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG VIỆC TRONG ĐƠN VỊ”.

2.1- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh vì sao chúng ta lại phải chữa thói ba hoa trong công việc

Người đã chỉ ra biểu hiện của thói ba hoa:

-  Dài dòng, rỗng tuếch. Nói dài, viết dài mà không có nội dung.

-  Có thói "cầu kỳ". Là cách “dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây" quần chúng không hiểu.

-  Khó khăn, lúng túng. Không chịu học tập, thiếu chuẩn bị, khi nói, khi viết quần chúng không hiểu.

-  Báo cáo lông bông. Báo cáo giả dối. Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi… Hoặc là báo cáo chậm trễKhông nêu rõ nội dung, vấn đề một cách rõ ràng, có hệ thống.

-  Lụp chụp, cẩu thả. Phải tránh bệnh này bằng cách: “Không biết rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”.

-  Bệnh theo "sáo cũ". Do làm việc thiếu chuẩn bị, nội dung mênh mông, không thiết thực, công thức máy móc, nói, viết những từ hoa mỹ, quần chúng không hiểu, không đem lại kết quả.

-  Nói không ai hiểu. Nội dung tuyên truyền, khẩu hiệu của Đảng “viết một cách cao xa, màu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”.

-  Bệnh hay nói chữ. Là bệnh ham dùng chữ nước ngoài nhưng không biết rõ nghĩa, "dùng không đúng mà cũng ham dùng, cái hại càng to”.

2.2- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc phòng chống bệnh ba hoa - - Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách.

- Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu.

- Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?

- Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết.

- Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: “Chó ba khoanh mới nằm. Người ba năm mới nói".

2.3- Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề 

- Con người ta khi nói về mình thường có xu hướng nói quá những cái tốt và che giấu những cái xấu đi, còn khi nói về người khác thường hay nói quá cái xấu của họ. Trường hợp nói quá mà làm ảnh hưởng đến người khác thì không nên.

- Người có thói ba hoa sớm muộn cũng làm mất lòng tin với người khác.

       - Nếu đồng nghiệp là người hay ba hoa thì bên cạnh việc phê bình để đồng nghiệp rút kinh nghiệm, chúng ta phải là tấm gương nói được làm được để đồng nghiệp mình học tập.

- Khi giao việc cho người có thói ba hoa cần có biện pháp thực hiện và giám sát chặt chẽ để người đó hoàn thành công việc đúng như yêu cầu đặt ra.

- Thói ba hoa ai cũng  mắc phải dù ít dù nhiều. Nếu bệnh ba hoa chỉ dừng lại ở câu chuyện vui vẻ thì không sao nhưng bệnh ba hoa trong công việc, làm ảnh hưởng đến việc chung thì cần phải loại bỏ.

- Mỗi người nên xây dựng cho mình một phương châm sống, phong cách cá nhân phải phù hợp với môi trường làm việc tập thể, cái riêng phải hòa vào cái chung để xây dựng cơ quan, sống có trên có dưới, đoàn kết và thương yêu nhau.

3- CHUYÊN ĐỀ “TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TINH THẦN ĐOÀN KẾT TRONG CÔNG VIỆC”

          3.1- Học tập tư tưởng HCM vì sao chúng ta phải đoàn kết:

 “Đoàn kết ” là một truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa đến nay của dân tộc ta. Cũng nhờ “Đoàn kết” mà dân tộc ta đã đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nó đã giúp nhân dân ta giữ vững được nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Tinh thần đoàn kết được ông bà ta lưu truyền lại qua câu ca dao:

Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, hay “thuận bè, thuận bạn, tát cạn biển đông”…và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đúc kết điều đó thành chân lý có giá trị muôn đời, Bác đã khẳng định rõ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.

3.2- Học tập tư tưởng HCM về tinh thần đoàn kết

          Đoàn kết trong một tập thể đơn vị là ở đó luôn có tinh thần đồng chí, đồng đội; tính thân thiện, lòng nhân hậu, đức bao dung của mọi người trong tập thể luôn được đề cao; mọi người yêu thương đoàn kết, giúp đỡ nhau và phải biết gắn bó, đồng tâm nhất trí với nhau thành một khối vững chắc, cùng hành động để đạt được một lý tưởng, một mục đích nhất định…Qua đó, sẽ tạo nên sức mạnh của một tập thể và sẽ là tiền đề dẫn đến mọi thành công.

          3.3- Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

          - Muốn để một tập thể luôn có sự đoàn kết trước hết chúng ta phải dám đấu tranh, thẳng thắn phê bình cái xấu, dám nói thẳng, nói thật, đóng góp cho nhau một cách chân tình, không nên công kích lẫn nhau, không nên nói xấu sau lưng, không nên để trong lòng, cái gì qua cho qua. Cả tập thể chúng ta phải nên suy nghĩ xem mình đã làm đúng hay chưa?

Trong cơ quan chúng ta đã đoàn kết, nhưng để thực sự đoàn kết thì chưa, do chưa hiểu nhau, chưa thông cảm, chưa có tiếng nói chung, nên cơ quan vẫn còn có những sự khúc mắc, chúng ta phải nên nhìn nhau để hiểu tính nhau, để có tiếng nói chung. Khi chúng ta góp ý nhau nên đề cao lợi ích tập thể, hạ thấp lợi ích cá nhân có như vậy thì chúng ta mới tạo được sự đoàn kết trong đơn vị.

Đoàn kết là tạo ra sức mạnh cho tập thể. Chúng ta đã đề cập được mặt trái, mặt phải của đoàn kết,  nếu mổ sẻ ra rất nhiều vấn đề nhưng trong lòng chúng ta có muốn đoàn kết không, nếu có tính cá nhân thì đoàn kết sẽ không tồn tại. Cũng là một con người thì mặt phải là gì, mặt trái là gì, mỗi người phải nhận rõ thì mới tiến bộ được.

             

4- CHUYÊN ĐỀ “VẬN DỤNG TT HCM VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG VIỆC”

4.1- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh vì sao chúng ta lại phải chống chủ nghĩa cá nhân:

           Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng". Nếu mắc phải chủ nghĩa cá nhân sẽ dẫn đến: ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh, không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

   Hồ Chí Minh cho rằng một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

4.2- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân

- Bác khuyên mọi người không bao giờ đặt cái tôi cao hơn tập thể và sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Luôn có phong cách sống chân thành, khiêm tốn, phấn đấu suốt đời vì nước, vì dân. Người viết: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc", " làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước", " không ham người tâng bốc mình"...  sống trong sạch, không tham lam, không ham tiền tài, danh vọng, không lợi dụng chức quyền để mưu lợi cá nhân.

       - Hồ Chí Minh coi việc chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm cần thiết, thường xuyên của những người cộng sản chân chính. Người cho rằng, mỗi cán bộ, đảng viên “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến”, mà phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, góp phần làm cho Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”.

4.3-Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề 

Trong mỗi chúng ta, ai cũng có tính cá nhân- cụ thể như: tính lười học hỏi, ngại việc khó; quan liêu; nể nang;chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng. 

Trong cơ quan ta tình trạng hiện đang tồn tại trong một số cán bộ viên chức như việc học hỏi trau dồi chuyên môn còn hạn chế, bằng lòng với những gì mình có. Trong cuộc họp hội nghị thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh là do lười biếng, không chịu học hỏi, nên thiếu kiến thức trong việc trả lời xử lý các tình huống. Cũng có những người vì sợ mất lòng người khác, đây là điều đáng sợ vì sẽ có động cơ cá nhân trong đó.

Vì vậy mỗi cá nhân chúng ta cần tăng cường học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp; nâng cao công tác tự phê bình và phê bình, thẳng thắn đóng góp cho đồng nghiệp của mình nhìn ra được những cái đúng để phát huy và những cái sai để sửa chữa.

Chúng ta phải hài hoa cả ba lợi ích, lợi ích cá nhân- lợi ích tập thể - lợi ích xã hội, không có chủ nghĩa cá nhân nhưng bản thân vẫn có lợi, tập thể cũng có lợi…. Con người khi sinh ra đã có lợi ích cá nhân nhưng cá nhân thế nào cho hài hoà, cho đúng. Chúng ta đã nhận thức được điều gì đúng, điều gì nên làm, và điều gì không nên làm. Tong các cuộc họp đừng mũ ni che tai, phải có ý kiến dân chủ để đi đến cái đúng, thống nhất.

5- CHUYÊN ĐỀ “VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - VẬN DỤNG” 

5.1- Vai trò của tổ chức công đoàn trong tư tưởng HCM

Người đã viết về tổ chức Công hội đỏ, có tính chất kinh điển về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn sau này: “Tổ chức Công hội trước đó để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”. Với tổ chức Công hội hay tổ chức Công đoàn, về tính chất là tổ chức đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân.

Người đã không quên nhấn mạnh rằng: “Mục đích của Công đoàn là phải cải thiện đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung”.

5.2- Học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc phát triển tổ chức Công đoàn

          Mỗi người phải hăng hái, thi đua làm việc để làm ra nhiều của cải cho đất nước, “Của cải mình lao động ra là của nước nhà, của nhân dân, là của mình, là của công”; giai cấp công nhân, nhân dân lao động phải bảo vệ tài sản công và cương quyết chống lại thói tham ô, lãng phí; chấp hành kỷ luật lao động; tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm.

         Người căn dặn: cán bộ Công đoàn phải đoàn kết nhất trí, người cán bộ phải vì lợi ích giai cấp, vì lợi ích cách mạng mà làm, chứ không phải vì cá nhân. Người nhắc nhở: “ Làm tốt công tác vận động, tổ chức giáo dục quần chúng công nhân viên chức làm tròn vai trò tiền phong cách mạng, để họ hiểu và tự nguyện, tự giác giữ gìn kỷ luật lao động, giữ gìn của công, thực hành tiết kiệm”. Coi lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn tạo nên hạnh phúc cho mọi người và cho cả thế hệ mai sau. Cán bộ Công đoàn phải quan tâm đến việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đối với cán bộ trẻ. Đó là việc làm thường xuyên và rất cần thiết, để họ được rèn luyện, phấn đấu và có điều kiện, khả năng được cống hiến nhiều hơn cho cách mạng.

          5.3- Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề

- Tổ chức công đoàn tại cơ quan đã đảm bảo quyền lợi vật chất, tinh thần cho anh em như: thăm hỏi, hiếu hỉ, sinh nhật, thăm quan học tập kinh nghiệm, thăm hỏi động viên gia đình chính sách và đoàn viên công đoàn là cựu chiến binh tại cơ quan, tặng quà cho cán bộ, công đoàn viên có thành tích cao trong học tập….

- Cán bộ công đoàn cần xem xét lại mình đã làm tốt công tác tuyên truyền hay chưa? Nếu công tác tuyên truyền làm tốt, làm đúng và đủ thì mọi công đoàn viên đều nhận thấy rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào tổ chức công đoàn.

- Đề xuất tổ chức thêm nhiều hoạt động thăm quan học tập kinh nghiệm cho cán bộ, giáo viên. Cán bộ công đoàn cần sáng tạo hơn, công đoàn viên cần tự giác hơn với chính mình, phát huy hết khả năng và tinh thần trách nhiệm của bản thân với công việc chung.

-  Là cán bộ Công đoàn, chúng ta cùng vận dụng thực hiện bằng những việc làm thiết thực của mỗi cán bộ đoàn viên Công đoàn, góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, công nhân, viên chức, lao động trong cơ quan nói riêng, xứng đáng với lòng tin yêu của Người.

6- CHUYÊN ĐỀ “TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÍNH NHÂN VĂN TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ THI HÀNH KỶ LUẬT”.

6.1- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nhân văn trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích của kiểm tra, giám sát là “để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”. Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện đúng nguyên tắc và các phương pháp công tác đảng, không được áp dụng các phương pháp điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Người yêu cầu người lãnh đạo, UBKT, cán bộ kiểm tra phải có phương pháp kiểm tra, giám sát thật dân chủ, khách quan, thận trọng, phải đi đúng đường lối quần chúng, phải thật sự nhân văn, nhân bản trong công tác quan trọng đặc biệt này thì mới đem lại kết quả, hiệu quả cao nhất.

- Người chỉ rõ: “muốn kiểm soát có kết quả, phải có hai điều: Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường xuyên làm. Hai là, người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín và phải “khéo kiểm soát”. Một mặt người lãnh đạo kiểm tra, giám sát, kiểm soát kết quả công việc của cán bộ mình. Mặt khác, phải kiểm tra, giám sát, kiểm soát từ dưới lên, tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát, kiểm tra, giám sát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cải cách sửa chữa sự sai lầm đó, đó là cách tốt nhất để kiểm tra, kiểm soát, giám sát các nhân viên.

- Trong quá trình tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, phải coi trọng thực hành phê bình và tự phê bình trung thực, công tâm, khách quan, thể hiện tình thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, không chen động cơ cá nhân, không mặc cảm, không thành kiến, thù oán nhau. Có như vậy, mới đạt mục đích, yêu cầu và bảo đảm tính Đảng, tính nhân văn.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn và lưu ý, trong công tác kiểm tra, giám sát, trong tự phê bình và phê bình phải làm sao cho đảng viên, cán bộ cấp dưới mạnh dạn thẳng thắn góp ý, phê bình đối với đồng chí, nhất là đối với đảng viên là cán bộ cấp trên, cán bộ lãnh đạo; không nên để “họ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, có tình trạng trên là do “Cách lãnh đạo của ta không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực” và Người yêu cầu phải “Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu, chống thói “trước mặt thì nể, kể lể sau lưng”.

- Người nhắc nhở các cấp uỷ, tổ chức đảng, người lãnh đạo qua kiểm tra, giám sát phải chỉ rõ ưu điểm, thành tích để pháp huy, nhân rộng; kịp thời phát hiện thiếu sót, khuyết điểm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên để lưu ý, cảnh báo, nhắc nhở, yêu cầu sửa chữa, khắc phục, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm từ khi còn manh nha; nếu thấy cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm thì phải làm rõ chứng ký, kết luận chuẩn xác, không chủ quan, áp đặt; phải để họ được bày tỏ ý kiến của mình về khuyết điểm, vi phạm của mình, tự thấy và tự giác nhận khuyết điểm, sai phạm, tự nhận hình thức kỷ luật một cách tâm phục, khẩu phục thì mới đạt được mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, mới đảm bảo tính Đảng, tính nhân văn trong công tác này.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn những người lãnh đạo, UBKT, cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát phải thường xuyên trau dồi nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác, giữ gìn đạo đức, lối sống, tác phong công tác khoa học: “… Các UBKT và cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối, quan điểm của Đảng, phải luôn luôn chú ý nâng cao khả năng chuyên môn, phải cố gắng công tác, phải trau dồi đạo đức cách mạng. Đặc biệt là phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, phải thật thà phê bình và tự phê bình để làm gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật. Phải chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến. Như thế thì mới làm tốt được công tác kiểm tra”.

2- Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề

- Kiểm tra giám sát là một công tác thường kỳ trong cơ quan đơn vị. Vậy khi đ/c chí nào có quyết định bị kiểm tra thì đây là một điều may mắn để kịp thời phát hiện ra những sai sót để khắc phục, sửa chữa.

- Nếu trong một cơ quan mà coi nhẹ việc kiểm tra giám sát thì cơ quan đó  không tuân thủ các kỷ luật; Lãnh đạo trong một đơn vị mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo, nếu không kiểm tra thì không biết công việc có đi đúng hướng không. Cùng trong một đơn vị, nếu lãnh đạo phòng nào chịu khó kiểm tra giám sát thì phòng đó sẽ hoạt động tốt

- Ở cơ quan ta việc tự phê bình còn hạn chế, vì vậy cần phải tăng cường công tác này.

- Cần tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra giám  tại đơn vị, giúp cho mỗi cán bộ đảng viên tự nhận rõ hơn về trách nhiệm và hiệu quả công việc của mình, khắc phục sửa chữa những tồn tại, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

7- CHUYÊN ĐỀ “HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ RÈN LUYỆN NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ VIÊN CHỨC”

7.1- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh vì sao lại phải rèn luyện nhân cách người cán bộ viên chức

          Quan điểm của Người về nhân cách là kết hợp hài hòa truyền thống của dân tộc Việt Nam với tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa nhân đạo của C.Mác, F.Ăng-ghen và V.I.Lê-nin.       Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”.

      7.2- Học tập Tự tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện nhân cách người cán bộ viên chức

Người dạy: “Mỗi đồng chí phải ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng, củng cố lập trường giai cấp công nhân… phải tuyệt đối chấp hành đường lối chính sách của Đảng và chính phủ… Dù cương vị nào, các đồng chí phải luôn gương mẫu, luôn luôn xứng đáng là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân”. Mặt khác, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của người cán bộ cách mạng thì nhất thiết phải có năng lực công tác. Theo Người: “có tài mà không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Do đó, vấn đề năng lực cũng là vấn đề luôn được người quan tâm đặc biệt.

          Tự tu dưỡng, rèn luyện. Đây là con đường quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp trong việc hình thành và phát triển, hoàn thiện nhân cách cán bộ, là phát huy nội lực của mỗi người. Để tu dưỡng, rèn luyện đạt kết quả, đòi hỏi trước hết mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nêu cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình. Người dạy: “trên con đường phát triển cách mạng của mình, Đảng ta, quân đội ta cũng như mỗi đồng chí chúng ta luôn luôn có ưu điểm và không tránh khỏi có khuyết điểm. Chỉ có không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai mới có thể làm cho mình, cho Đảng, cho cách mạng tiến bộ mãi”.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi phẩm chất cách mạng, đồng thời phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, bài trừ bệnh quan liêu, xa rời quần chúng, phải thực sự là người đầy tớ, là công bộc của nhân dân.

     2- Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề

- Cấu trúc nhân cách người cán bộ viên chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh gồm có 5 đức tính: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; trong đó chữ “nhân” là quan trọng nhất.   

          - Đối với cơ quan ta, khẩu hiệu đoàn kết - tiết kiệm -  sáng tạo -hiệu quả rất đúng đắn, trong đó tinh thần đoàn kết luôn được nhấn mạnh và đặt lên hàng đầu. Chúng ta cần đoàn kết hơn nữa, thực chất hơn nữa, chân thành với nhau hơn nữa để đạt kết quả cao hơn trong công việc.

- Cơ quan ta đang từng bước thực hiện học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng ta chưa làm tốt, ta còn nhiều hạn chế trong việc tu dưỡng, rèn luyện; tinh thần phê và tự phê chưa tốt, còn cả nể, né tránh, từng viên chức vẫn chưa thực sự “nói đi đôi với làm”. Có những người nói rất hay nhưng làm còn chưa tốt , có người làm việc tốt nhưng trong cách nói trình bày thì không thoát ý.

- Cán bộ, viên chức trong cơ quan cần tự tu dưỡng, rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, không ngừng đấu tranh, xây dựng tinh thần đoàn kết, xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, hiệu quả. Mỗi chúng ta phải tự xem lại chính mình, Nếu thấy có gì chưa đúng đắn thì cần phải tự mình sửa đổi hoặc nhờ đồng nghiệp sửa giúp vì không ai là toàn vẹn, ai cũng có điểm mạnh và điểm yếu, mỗi cán bộ, viên chức tại Trung tâm phải có ý thức cố gắng hoàn thành công việc hết khả năng của bản thân, cố gắng tự khắc phục, tháo gỡ khó khăn. Mọi người cùng nhau cố gắng, đảm bảo sự đoàn kết, tiết kiệm, hiệu quả trong công việc thì cơ quan sẽ phát triển vững mạnh!

 8- CHUYÊN ĐỀ: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG

8.1- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, vì sao phải quan tâm đến công tác thi đua khen thưởng:

- Công tác thi đua, khen thưởng là một nội dung quan trọng ở tất cả các cơ quan, đơn vị. Thông qua thi đua, khen thưởng mà phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của con người và những thành tựu, kinh nghiệm điển hình, khắc phục những khó khăn, hạn chế, thúc đẩy phong trào phát triển đi lên.

- Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi”.  Đối với Người, làm tốt công tác thi đua khen thưởng sẽ giúp ích rất lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.  

- Chủ tịch HCM coi tổ chức thi đua là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, biến thành sức mạnh, động lực để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Theo Người, “Thi đua là yêu nước, ai yêu nước thì phải thi đua”,

8.2- Học tập tư tưởng HCM trong công thi đua khen thưởng 

          - Theo Người, thi đua phải có kế hoạch, có nội dung cụ thể, không làm chung chung, được chăng hay chớ. Người nhấn mạnh thi đua: “Phải có kế hoạch tỷ mỷ”. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm. nghĩa là phải sao cho mỗi nhóm, mỗi người tự giác, tự động…

          - Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực. Khi đặt kế hoạch phải tuyệt đối tránh sự sơ xuất, đại khái, quá cao, phiền phức, miễn cưỡng”

 

 - Và kết quả thi đua không phải được một lần rồi đóng đấy, kết quả thi đua phải đạt chất lượng, có sự phát triển về phong trào và sự cố gắng liên tục không ngừng nghỉ. Người chỉ rõ:“Mức thi đua phải tiến dần mãi và tiến mãi mãi. Những người và những nhóm hiện nay đã đạt được mức cao, thì phải làm cho chất lượng tốt hơn nữa và phải gắng tiến lên nữa, phải giúp đỡ những người và những nhóm còn kém theo kịp”.

 

- Thi đua cần phải có sự lãnh đạo đúng đắn, sự soi đường, chỉ lối của lãnh đạo phong trào thi đua. Nếu phong trào thi đua không có người soi lối, dẫn đường, cũng giống như đi trong đêm tối không có ánh sáng vậy, Người cho rằng: "Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng". Có lãnh đạo phong trào, có vạch kế hoạch và từng bước thực hiện thì thi đua mới gặt hái được nhiều kết quả quan trọng.

- Về phương pháp của thi đua,  Người yêu cầu, phải kết hợp chặt chẽ giữa thi đua với khen thưởng , khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục, những hình thức khen thưởng đều có tác dụng động viên, khích lệ những người tham gia phong trào “Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”.

- Theo Bác, Bình bầu thi đua đúng, công khai, chặt chẽ giúp cho việc khen thưởng được chính xác. Bình bầu thi đua rộng, nể nang thì dẫn đến việc khen thưởng tràn lan; bình bầu thi đua chiếu lệ cho có, nếu không kiểm tra kỹ thì dẫn đến khen sai, khen không đúng sẽ phản tác dụng. Muốn làm tốt công tác khen thưởng thì phải lãnh đạo tốt phong trào thi đua và tổ chức việc bình bầu danh hiệu thi đua nghiêm túc ngay từ cơ sở.

- Khen thưởng phải phản ánh đúng phong trào thi đua. Nơi nào có phong trào thi đua mạnh mẽ, đều khắp thì khen nhiều, phong trào thi đua xuất sắc thì khen cao, phong trào yếu thì ít khen, mà khen nhiều là không đúng.

8.3. Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề: 

- Thi đua làm cho công việc càng ngày càng hoàn thiện hơn, mang lại lợi ích cho tập thể, cho xã hội và cho đất nước việc đó thể hiện sự yêu nước.

- Thi đua không phải là cạnh tranh, thi đua có thể giúp đỡ nhau, chia sẻ cho nhau, còn cạnh tranh có sự phân biệt, cạnh tranh chỉ bảo vệ quyền lợi của riêng mình, đôi khi có thể dẫn tới xung đột.

- Thi đua phải có kế hoạch  rõ ràng, đầu  năm đăng kí thi đua tức là đặt ra mục đích để hướng tới, chúng ta đã bám sát  9 ý trong công tác thi đua của Bác, toàn thể cán bộ viên chức cơ bản thực hiện tốt phong trào thi đua tại cơ quan. Công tác khen thưởng tại cơ quan đã đúng người, đúng việc và kịp thời.

-Trong phong trào thi đua, đã chọn ra những người có thành tích để khen thưởng làm gương, nhưng cũng chỉ ra những người không thi đua phá đám để chỉ ra những điểm yếu của họ. Cơ quan ta, công tác thi đua vẫn còn mang tính hình thức, bó đũa chọn cột cờ.

- Trong công tác thi đua, cụ thể nhất là hoàn thành tốt công tác hàng tuần, hàng tháng, tự mình bảo vệ được mình, và giúp đỡ được đồng nghiệp của mình.

9- CHUYÊN ĐỀ “LÀM THEO TƯ TƯỞNG HCM VỀ ĐÁNH GIÁ, BỐ TRÍ VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ.

9.1- Vai trò của công tác cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

- Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém, Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn.Vì vậy, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo, đánh giá và sử dụng cán bộ, giao cho họ những trọng trách và giúp đỡ họ hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó.

9.2- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ

* Thứ nhất, phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ:

- Nếu không đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ thì không thể đề bạt, sử dụng cán bộ một cách đúng đắn được. Hồ Chí Minh cho rằng, cứ mỗi lần xem xét lại cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu kém sẽ bị lòi ra. Đánh giá đúng cán bộ không chỉ nhằm phát hiện cái hay của họ để khuyến khích, phát huy, mà còn nhằm thấy cái dở của họ để tìm cách giúp đỡ, khắc phục. Người nói: “Ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu của họ”.

- Khi xem xét, đánh giá cán bộ, “quyết không nên chấp nhất” mà phải có cái nhìn toàn diện. Việc đánh giá cán bộ không thể chỉ căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài của họ, mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của họ; không thể chỉ dựa vào một việc làm của họ, mà phải tìm hiểu tất cả các công việc mà họ thực hiện; không thể chỉ xem xét cán bộ trong một thời điểm, mà phải thấy rõ lịch sử của họ. Có cái nhìn toàn diện như vậy, ta mới có thể đánh giá cán bộ một cách đúng đắn, khách quan. 

- Theo Chủ tịch HCM, những người làm công tác cán bộ khi đánh giá, xem xét cán bộ còn phải “tự biết mình”, tức là biết được “sự phải trái của mình”. Vì theo Hồ Chí Minh “muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình.

* Thứ hai, phải “khéo dùng cán bộ”, “dùng người đúng chỗ, đúng việc”:

- Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “dùng người như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”. Trong công tác cán bộ phải “khéo dùng” (hay còn gọi là nghệ thuật dùng người), là phải dùng đúng người, đúng việc, đúng năng lực, sở trường, làm cho cán bộ vui vẻ, thoải mái, yên tâm công tác và hăng hái thi đua cống hiến sức mình cho sự nghiệp cách mạng. 

- Theo Chủ tịch HCM, người lãnh đạo, quản lý phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài.

- Hồ Chí Minh phê phán những bệnh sau đây: “1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; 2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực; 3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình”.

*Thứ ba, trong sử dụng cán bộ phải chống chủ nghĩa biệt phái, cục bộ, địa phương, hẹp hòi:

- Hồ Chí Minh hay nhấn mạnh đến việc chống cánh hẩu, họ hàng, thân quen trong công tác cán bộ nói chung cũng như trong sử dụng cán bộ nói riêng. Người phê bình một cách nghiêm khắc việc người dùng cán bộ là hay dùng người bà con, anh em quen biết, ham dùng những kẻ khéo nịnh mình dẫn đến hiện tượng ô dù, kéo bè kéo cánh, công thần.

- Trong sử dụng cán bộ phải kết hợp các loại cán bộ trên tinh thần đoàn kết cùng hướng tới mục đích chung là hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất; không cục bộ, hẹp hòi. Phải kết hợp giữa cán bộ lớn tuổi và cán bộ trẻ, lớp cán bộ cũ và cán bộ mới, tạo nguồn cán bộ kế cận để bảo đảm sự chuyển giao công việc, phải bồi dưỡng cán bộ cách mạng cho đời sau.

- Hồ Chí Minh phê bình nghiêm khắc tệ “kéo bè kéo cánh” trong công tác cán bộ. Tệ này phát sinh từ bệnh bè phái, ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau; ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là người xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống.

* Thứ tư, phải yêu thương, giúp đỡ cán bộ:

- Người chỉ rõ: “Không phải vài ba tháng, hoặc vài ba năm, mà đào tạo được một người cán bộ tốt, mà cần phải có quá trình công tác, tranh đấu, huấn luyện lâu năm mới được.

- Yêu thương cán bộ không phải là vỗ về, nuông chiều, phó mặc. Theo Hồ Chí Minh, thương yêu cán bộ “là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm. Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh hoạt, ngày thường thì điều kiện dễ chịu, khi đau ốm được chăm sóc, gia đình họ khỏi khốn quẫn. thương yêu cán bộ còn là luôn luôn chú ý đến công tác của họ. Hễ thấy có khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay. Hễ thấy ưu điểm thì động viên, khuyến khích họ.

- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thương yêu cán bộ chính là ở thái độ thưởng phạt công minh, có thành tích thì khen, có khuyết điểm phải phạt,"Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm”. Vì vậy, đối với cán bộ mắc sai lầm, ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế, mà công kích họ. Trái lại, khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục để giúp họ sửa chữa, phải có thái độ thân thiết, giúp đỡ và động viên họ hăng hái tiến lên.     

* Thứ năm, phải có gan đề bạt và cất nhắc cán bộ

       -Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm công tác cán bộ phải có gan đề bạt, cất nhắc cán bộ. Có gan tức là phải mạnh dạn. Sở dĩ Người nói như vậy vì chúng ta thường hay “rụt rè” hoặc “quá khắt khe” trong việc đề bạt cán bộ. Theo Hồ Chí Minh, có gan cất nhắc cán bộ nghĩa là người cán bộ được cất nhắc có thể còn điểm yếu, song phải biết được khuyết điểm của họ để sau khi cất nhắc tiếp tục giúp đỡ họ tiến bộ. Có gan đề bạt cất nhắc là không sợ người được đề bạt cất nhắc sẽ vượt mình. Có gan không có nghĩa là làm nóng vội, làm ẩu, làm liều, càng không vì danh lợi của mình mà cất nhắc cán bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, vì tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy

      - Trước khi đề bạt, cất nhắc phải xem xét, đánh giá phẩm chất đạo đức, năng lực công tác và các mối quan hệ của họ trong quá trình công tác. Trên cơ sở những ưu điểm, năng lực mà đề bạt, cất nhắc họ một cách khách quan, công tâm, đúng người, đúng việc.

      - Hồ Chí Minh nhấn mạnh, người sử dụng cán bộ  “Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà lại gây lên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào”. Người còn nhắc nhở: “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên, thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”. Do vậy, đề bạt, cất nhắc cán bộ phải xem xét hết sức cẩn thận, chính xác, sau khi cất nhắc còn phải giúp đỡ họ để họ vững tin công tác. 

      9.3- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề

- Một người cán bộ tốt là người có tài, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, trong đó lấy đức làm gốc; thường xuyên rèn luyện nhân cách và phải có tư tưởng Yêu nước; luôn đi sâu nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn phục vụ đất nước.

- Tiêu chí của một người lãnh đạo là phải có gan đề bạt, cất nhắc cán bộ, không chỉ nhìn và nói và viết mà phải nhìn vào việc người ta làm; là người luôn giúp đỡ người yếu kém, khen thưởng người tiến bộ, lấy kết quả công tác thực tế và tín nhiệm  của nhân dân làm thước đo, tránh việc chủ quan, trù úm.

- Tại Trung tâm ta, việc bổ nhiệm và quy hoạch cán bộ được thực hiện theo đúng quy định, những đồng chí trong diện quy hoạch, bổ nhiệm luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, phấn đấu là người cán bộ hoàn thiện về mọi mặt theo đúng tư tưởng của Hồ Chí Minh.

KẾT LUẬN: dưới sự chỉ đạo và định hướng của ban lãnh đạo Trung tâm, Công tác hoạt động chuyên đề trong thời gian qua đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp, từ tư tưởng của Bác đã được đi sâu vào liên hệ thực tế với tình hình ở đơn vị, từ đó từng tập thể và cá nhân đã nhận định được những việc đã làm được và chưa làm được để kịp thời khắc phục sửa chữa, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc của đơn vị.

Trên đây là báo cáo tổng kết công tác chuyên đề tháng 2,3,4 của bộ phận đào tạo Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên.




(Theo Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên)



Gửi qua YM

 Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:



Lên đầu trang
 Đăng Nhập 
Tên Đăng Nhập
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
 Hỗ Trợ Trực Tuyến 
 Thời Tiết 

Hà Nội
Thời tiết thủ đô Hà Nội

Hải Phòng
Thời tiết Bạch Long Vĩ, Hải Phòng

TP.HCM
Thời tiết TP. Hồ Chí Minh

 Quảng Cáo 
Đang khởi tạo các Logo...


Trang chính
Trang chủ Liên hệ BQT        
Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Tỉnh Hưng Yên.
126 Phạm Ngũ Lão - Quang Trung - TP Hưng Yên - Tỉnh Hưng Yên.
Tel: 0321. 3862855 – 3862928 Fax: 0321.3556568.
Email Liên Hệ TTGDTX Hưng Yên